Ứng phó linh hoạt để xuất khẩu không bị ảnh hưởng bởi xung đột Trung Đông
Bất ổn chính trị ở khu vực Trung Đông ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất nhập khẩu của các nước, bao gồm cả Việt Nam. Trong đó, nhãn tiền là cước phí vận chuyển tăng và thời gian kéo dài hơn thường lệ.
Theo ông Nguyễn Anh Sơn – Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), nhóm hàng nông sản (rau quả, cà phê, hạt điều, hồ tiêu…) chịu ảnh hưởng chung khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị ảnh hưởng bởi xung đột. Theo đó, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với tình trạng tăng thời gian và chi phí vận chuyển, tăng chi phí, bảo hiểm, rủi ro thanh toán… Đối với các mặt hàng tươi cần container lạnh (như thủy sản, rau quả), thời gian vận chuyển kéo dài có thể xảy ra tình trạng thiếu container lạnh hoặc tăng chi phí bảo quản, tăng rủi ro hư hỏng hàng hóa, làm tăng giá thành sản phẩm và có thể gây rủi ro hoàn/hủy đơn hàng. Bên cạnh đó, các ngành hàng nông sản tươi như rau quả đặc thù biên độ lợi nhuận thấp có thể khiến mức phụ phí hoặc mức tăng chi phí vận tải biển làm ảnh hưởng nặng nề tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Về chuỗi cung ứng quốc tế và vận tải đường biển, cước vận chuyển tăng cao theo giá dầu làm tăng chi phí vận tải đường biển, đường không và đường bộ. Tính đến đầu tháng 3-2026, giá cước container đi Mỹ và EU đã tăng 2 – 3 lần. Cước container 40 feet sang các thị trường trọng điểm như EU và Mỹ dự báo có thể vượt mốc 5.000 USD. Cước tàu áp dụng thêm phụ phí Emergency Conflict Surcharge (ESC) 1.500 – 2.000 USD/cont 20 thường, 3.500 – 4.000 USD/cont hàng lạnh reefer hay hàng special. Thời gian vận chuyển từ châu Á tới châu Âu kéo dài thêm 10 – 15 ngày do các công ty vận tải biển phải chuyển hướng, thời gian vận chuyển. Ngoài ra, chi phí bảo hiểm tăng cao, tình trạng thiếu container rỗng quay trở lại, rủi ro thanh toán phát sinh, nguy cơ hủy đơn hàng lớn và nhu cầu tiêu dùng có thể giảm, đặc biệt tại thị trường Hoa Kỳ – đối tác xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tất cả các yếu tố này sẽ gây thử thách lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Ở tầm vĩ mô, mục tiêu xuất khẩu năm 2026 trở nên thách thức hơn.
Giao chỉ tiêu cho thương vụ
Theo kế hoạch đã đề ra, năm 2026 mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu từ 15 – 16% so với năm 2025, kim ngạch dự kiến đạt khoảng 546 – 550 tỷ USD. Đây là mục tiêu thách thức trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông còn diễn biến phức tạp, khó đoán định. Do đó, để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong năm 2026, Cục Xuất nhập khẩu đề xuất Bộ Công Thương tiếp tục theo dõi sát diễn biến thương mại toàn cầu, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan để triển khai các giải pháp điều hành linh hoạt. “Việc điều hành xuất nhập khẩu cần gắn với nhiều chính sách liên quan đến sản xuất, tài chính, tín dụng và logistics. Một số chính sách quản lý ngoại thương cũng sẽ được áp dụng linh hoạt theo quy định của pháp luật. Trong những trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý có thể xem xét tạm dừng xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số mặt hàng, nhằm bảo đảm cân đối thị trường và lợi ích kinh tế quốc gia” – ông Nguyễn Anh Sơn nói.
Bên cạnh các giải pháp từ cơ quan quản lý, Cục Xuất nhập khẩu cũng khuyến nghị hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong thương mại quốc tế. Các hiệp hội cần tăng cường cung cấp thông tin thị trường cho hội viên, đặc biệt là những cảnh báo về thay đổi chính sách thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật và rào cản thương mại.
Ông Đỗ Ngọc Hưng – Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời cũng là thị trường có mức độ cạnh tranh và yêu cầu tiêu chuẩn ngày càng khắt khe. Hiệp hội ngành hàng, địa phương và doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại từ sớm, đồng thời bám sát diễn biến chính sách của Hoa Kỳ, đặc biệt là các quy định liên quan đến thuế quan, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường và các yêu cầu về phát triển bền vững. Bên cạnh đó, việc tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành tại Hoa Kỳ vẫn có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sự hiện diện của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường này. Tuy nhiên, các chương trình xúc tiến cần được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn về mục tiêu thị trường, lựa chọn đối tác tiềm năng cũng như khả năng theo đuổi đơn hàng sau xúc tiến. Cùng đó, gắn xúc tiến xuất khẩu với xúc tiến nhập khẩu và đầu tư, qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam – Hoa Kỳ theo hướng cân bằng và bền vững hơn. “Thời gian tới cần tiếp tục tăng cường cung cấp thông tin thị trường chuyên sâu, đồng thời cảnh báo sớm các thay đổi chính sách và các vụ việc điều tra thương mại nhằm giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó và khai thác hiệu quả hơn thị trường Hoa Kỳ” – ông Đỗ Ngọc Hưng nhấn mạnh.
Nguồn: anninhthudo.vn

